Ngủ được hiểu đơn giản
là giai đoạn nghĩ ngơi của thể xác và trí não. Trong thời gian đó, các chức
năng của cơ thể được ngưng hoạt động một phần bên cạnh đó sự nhạy cảm với các
tác nhân kích thích bên ngoài cũng bị giảm đi nhưng vẫn dễ dàng được phục hồi lại.
được xem như là một trạng thái thức
tỉnh tạm ngừng và dễ hồi phục, trong khi ngủ cơ bắp dãn mềm, các hoạt động hô
hấp và tuần hoàn chậm lại, đó là lý do vì sao ta nói rằng hầu như toàn cơ thể
được nghỉ ngơi trong khi ngủ.
Giấc
ngủ đóng vai trò cực kỳ quan trọng khi mà thông qua đó cơ thể điều hòa cân bằng nội môi, điều chỉnh thân nhiệt và bảo tồn năng
lượng và hồi phục sức khỏe. Mất ngủ hay thiếu ngủ là một trong các nhân tố dẫn
đến một số các thảm hoa, một minh chứng đơn giản là nếu “thức trắng đêm” có thể
giảm 40% khả năng học tập và ghi nhớ những sự việc mới bên cạnh đó là sự suy giảm về khả năng chịu đau của
con người, cách tốt nhất để hiểu vai trò của giấc ngủ là nhìn vào những gì sẽ
xảy ra nếu chúng ta không ngủ. Thiếu ngủ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng
hoạt động của não bộ. Nếu bạn từng thức đêm trong thời gian dài thì tính cách
bạn sẽ trở nên cộc cằn, hay than vãn, khó chịu và hay quên. Chỉ sau một đêm
không ngủ, mức độ tập trung của bạn sẽ trở nên khó khăn hơn, thời gian tập
trung cũng rút ngắn đáng kể. Trong những tình huống thực tế, hậu quả nghiêm
trọng từ việc thiếu ngủ của nhân viên được cho là yếu tố góp phần gây nên một
số thảm họa quốc tế như Exxon Valdez, Chernobyl, Three Mile Island và
Challenge, nổ tàu con thoi. Một điều thật sự thú vị là với một giấc ngủ ngắn 6
phút có thể giúp tăng cường trí nhớ. Có thể nói giấc ngủ là một món quà vô giá
mà cuộc sống đã gửi tặng con người. Mất ngủ không chỉ có tác động đến chức năng
nhận thức, mà còn tác động đến sức khỏe tinh thần và thể chất con người. Nó có
thể gây ra các các rối loạn như khó thở, căng thẳng và bệnh huyết áp cao, đồng
thời mất ngủ làm tăng nguy cơ béo phì vì các hormone và enzym kiểm soát sự thèm
ăn và tăng cân tạo ra trong lúc ngủ.
Khi bạn chuẩn bị “hạ cánh” trên giường cùng
một chiếc chăn ấm áp, tựa lưng xuống chiếc giường thật thoải mái nhưng không
quên chọn cho mình một cái gối thật êm ái…và bắt đầu ta đi vào giấc ngủ. Cũng
chính vì tầm quan trọng của giấc ngủ mà các nhà khoa học đã không ngừng tìm
tòi, nghiên cứu về sự kỳ diệu này. Hai chương trình nghiên cứu riêng rẽ đã tạo
nên những hứng thu khoa học về giấc ngủ và giấc mơ. Một là Sigmund Freud (1900)
đã sử dụng quy trình phỏng vấn đặc biệt để ghi lại những giấc mơ, với công
trình nghiên cứu của mình ông đã đi đến các thuyết riêng và bắt tay vào việc giải
mã các giấc mơ. Công trình thứ hai là Eugene Aserinsky và Nathaniel Kleitman với
việc ứng dụng kỹ thuật trong phòng thí nghiệm để đo các phản ứng sinh lý, đã chứng
minh rằng giấc ngủ gắn liền với một dạng thức hoạt động sinh lý phức tạp và
luôn thay đổi (Nathaniel Kleitman, 1963).
Vậy thì điều gì xảy ra khi chúng ta ngủ:
Các
nghiên cứu điện não đã phát hiện giấc ngủ không phải là một trạng thái đồng
nhất mà bao gồm nhiều giai đoạn.
·
Giai đoạn giấc ngủ nghịch thường hay giai đoạn giấc ngủ vận
động mắt nhanh : giấc ngủ gọi là nghịch thường vì có
sự đối nghịch giữa trạng thái cơ thể đang ngủ sâu và hoạt động của não tăng
mạnh (tăng sử dụng ôxi, bản ghi điện não của giai đoạn ngủ này giống như bản
ghi điện não lúc thức). Các chức năng sinh lý (mạch, nhịp thở, huyết áp,..)
cũng tăng, giống như trạng thái thức. Giấc ngủ nghịch thường diễn ra sau giai
đoạn 4 của giấc ngủ sâu và có đặc điểm: hoạt động điện nhanh, điện thế thấp, có
khi xuất hiện các sóng răng cưa nên giai đoạn này còn gọi là giai đoạn giấc ngủ
sóng nhanh; vận động nhãn cầu nhanh, nên giai đoạn này còn gọi là giai đoạn
giấc ngủ vận động mắt nhanh; trương lực cơ thả lỏng, người ngủ (người lớn và
trẻ em trên 2 tuổi), bất động hoàn toàn; ở sơ sinh thấy còn các vận động nhỏ ở
chi, ở mặt, ở thân thể nhưng có ức chế trương lực của vùng cằm.
Đối
với trẻ em, giấc ngủ một trong những nhu cầu thiết yếu. Sơ sinh ngủ 16-17 giờ
mỗi ngày, mỗi giấc 5-6 giờ phân bố cả ngày và đêm. Trẻ em ba tuổi ngủ 11-12 giờ
mỗi ngày, giấc ngủ dài hơn về đêm (7 giờ liền), thời gian thức dài hơn về ban
ngày. Giấc ngủ trưa biến đi lúc 4 tuổi. Tuổi càng lớn, tổng số giờ ngủ càng
giảm dần: 12 giờ lúc 1 tuổi, 11 giờ lúc 3-5 tuổi, 9 giờ lúc 6-12 tuổi, 8 giờ
lúc 13-15 tuổi. Song thời lượng giấc ngủ khác nhau rõ rệt giữa các cá nhân (sơ
sinh cũng như người lớn). Trẻ sơ sinh chuyển trực tiếp từ trạng thái thức sang
giấc ngủ nghịch thường, giấc ngủ nghịch thường chiếm 50% thời lượng ngủ. Tỷ lệ
này giảm rất từ từ, ở người lớn còn 20% và tương đối ổn định đến tuổi già; tuy
nhiên ở người có tuổi, cả giấc ngủ sóng chậm và giấc ngủ nghịch thường đều
giảm. Trung bình, một chu kỳ ngủ (tức thời gian giữa hai giấc ngủ nghịch
thường) ở trẻ em là 60 phút, ở người lớn là 90 - 120 phút. Giấc ngủ sóng chậm
diễn biến chủ yếu trong 4 giờ đầu của đêm ngủ, giấc ngủ nghịch thường trội lúc
cuối đêm. Ở trẻ em trước 2 tuổi, giai đoạn giấc ngủ nghịch thường xảy ra sớm,
khoảng 30 - 45 phút sau khi vào giấc ngủ. Ở trẻ em lớn hơn, giấc ngủ nghịch
thường xuất hiện chậm hơn (khoảng 100 - 120 phút), với lúc đầu là giấc ngủ
nghịch thường không điển hình, chập chờn, hay xảy ra các cơn sợ hãi ban đêm và
miên hành.
Một
số vấn đề rối loạn về giấc ngủ mà các nhà lâm sàng cần phải xác định rỏ bản
chất loại rối loạn giấc ngủ, mức độ rối loạn, nguyên nhân, khai cả các rối loạn
khác kết hợp với sự tiến triển để xem mất ngủ đó có phải là một triệu chứng của
một bệnh tâm thần hay một bệnh cơ thể nào không.
Nhóm rối loạn vào giấc ngủ
1. Rối loạn giấc ngủ ở trẻ em 1 tuổi
Mất ngủ thông thường
Một số trẻ nhỏ hay "gắt ngủ", rên khóc, bứt rứt,
trằn trọc, cựa quậy, khó ngủ...
Nguyên nhân có thể là:
- Điều kiện chăm sóc không tốt (vệ sinh tắm gội kém, áo quần
ẩm ướt), môi trường ồn ào, có mùi khó chịu (khói thuốc lá...), khẩu phần ăn quá
mức, giờ ăn quá cứng nhắc.
- Quan hệ mẹ - con gặp phải những trở ngại.
Chăm sóc: cải thiện các điều kiện bất lợi kể trên, trẻ em sẽ
ngủ tốt hơn.
Mất ngủ vật vã
Có trẻ em tự nhiên khóc thét từng hồi lâu, nét mặt căng
thẳng, giãy rụa, không thể dỗ được; chỉ tạm yên một lúc ngắn rồi lại kêu khóc,
có khi kèm theo động tác uốn éo thân mình và hành vi sự xâm hại.
Mất ngủ yên tĩnh
Biểu hiện: bé nằm yên cả ngày đêm, mắt mở to, không đòi gì.
Thể mất ngủ này gặp trong rối loạn tự kỷ và loạn thần sớm.
Nguyên nhân có thể do người mẹ không có khả năng bảo vệ giấc
ngủ của con vì có thể bị trầm cảm, lo âu, rối loạn tâm căn.
Điều trị: cải thiện các khó khăn của mẹ, có thể cải thiện
chứng mất ngủ của trẻ em; nghiên cứu tương tác sớm mẹ - con và áp dụng liệu
pháp tâm lý cặp mẹ - con cũng là một biện pháp tốt.
2. Những rối loạn lúc sắp ngủ ở trẻ
em 2 - 6 tuổi
Biểu hiện: khi mẹ cho đi ngủ, trẻ em vùng vằng, chống đối,
kêu khóc, đòi một điều gì đó (đòi bố mẹ kể chuyện, đòi mua bánh kẹo, đòi uống
nước, thường đòi một vật liên quan đến ám ảnh sợ như đòi để đèn sáng, đòi một
vật gì để cầm trong tay...).
Về nguyên nhân, cần thăm dò các nhân tố sau đây:
·
Môi trường không tốt: ồn ào, mùi khó
chịu, (khói thuốc lá...), ở cùng phòng với bố mẹ, giờ ngủ quá bất thường;
·
Bố mẹ làm điều gì đó gây phản ứng
chống đối của đứa trẻ;
·
Có xung đột nội tâm, lo âu;
·
Ám ảnh sợ ngủ với đòi hỏi có tính
chất chống ám ảnh sợ; đòi đồ chơi, đòi để đèn sáng, để ngỏ cửa, đòi bố mẹ nắm
tay nó, đòi nằm ngủ giữa bố và mẹ...
3. Các rối loạn giấc ngủ ở thanh
thiếu niên
Đó là rối loạn liên quan đến thời lượng, chất lượng và giờ
giấc ngủ. Biểu hiện: khó vào giấc ngủ, giấc ngủ trằn trọc không yên, mất ngủ,
sáng dậy mệt mỏi.
Nguyên nhân: rối loạn giấc ngủ ở thanh thiếu niên thường
liên quan với lo âu (sức khỏe, về sự buồn phiền thường ngày do kết quả học tập,
tình bạn, tình yêu, quan hệ với bố mẹ với thầy cô giáo) có khi căng thẳng, phải
tìm dùng thuốc ngủ, thuốc bình thản, dễ dẫn đến lệ thuộc thuốc.
Tiếp theo : Kỳ tiếp theo nhấn mạnh đến một số giả thuyết có liên quan, chẩn đoán và các chẩn đoán phân biệt nhằm đề xuất hướng điều trị thích hợp.
- Các bệnh lý đặc biệt của giấc ngủ.
- Các cơn bất thường trong giấc ngủ (Parasomnias): Các cơn lo sợ ban đêm (Angoisses nocturnes), cơn sợ hãi ban đêm, ác mộng, cơn thức dậy lo âu, miên hành, các cơn tự động vận động, chứng nói mê trong khi ngủ, nghiến răng lúc ngủ, đái dầm....
Tài liệu tham khảo:
1. Web: http://sleepfoundation.org.
2. Web: http://www.webmd.com/sleep-disorders/default.htm?names-dropdown=
3. Web: Australasian Sleep Association
4. Tâm bệnh học trẻ em và thanh thiếu niên _ Ts.Bs. Nguyễn Văn Xiêm.
5. Từ điển Tâm lý học _ GS.TS. Vũ Dũng