Nguyên tác: Guy Ausloo
BÍ
MẬT GIA ĐÌNH
Bàn
vỀ chuyỆn xưa
Trước đây, tôi đã trình bày một bài báo cáo chưa hoàn hảo
lắm với tựa đề: Oedipe và Gia đình – Những bí mật được tạo ra để vận dụng.
Khi đào sâu về vấn đề này, tôi nhận thấy rằng nếu không có những bí mật thì
huyền thoại Oedipe cũng không còn nữa. Vậy đó là những bí mật gì?
“Trước khi Oedipe sinh ra, cha của Oedipe là Laios, lúc đó
đang lưu vong, đã bắt cóc Chrysippe, con của Pélops, người đang tiếp nhận ông
lúc bấy giờ. Laios đã phạm đến hai lỗi: đã vi phạm luật lệ thiêng liêng về ân
nghĩa đối với người đã tiếp đón mình và có một mối quan hệ bị cấm kỵ (quan hệ
đồng tính với Chrysippe, một thiếu niên). Chrysippe đã tự vẫn và vì thế mà
Pélops đã đưa ra một lời nguyền trên đứa con sắp sinh của Laios, lời nguyền mà
Héra tiếp nối sau này. Tuy nhiên, điều đó đã được giữ kín: đó chính là cái bí
mật đầu tiên. Đến khi Oedipe được sinh ra[1],
không ai biết đến lời nguyền này và hình như không ai biết cả sự ra đời của
ông: bí mật thứ hai. Thay vì vất bỏ đứa bé, người đầy tớ đã giao nó cho những
người chăn cừu và không hề nói với ai về hành động này: bí mật thứ ba. Khi vua
thành Corinthe là Polybe nhận nuôi đứa trẻ, ông đã làm cho nó tin rằng ông là
cha nó và xem nó như con ruột: bí mật thứ tư. Và sau cùng, khi Oedipe hỏi ý
kiến thần tiên tri của Appolon, ông hoàn toàn không nói gì về những điều bí mật
đã được tiết lộ với ông và đã ra đi theo định mệnh của mình, không một lời giải
thích: bí mật thứ năm. Những bí mật đã được an bài: Bi kịch có thể bắt đầu!
Bí mật đầu tiên làm cho những nhà tâm lý trị liệu chúng ta
đặc biệt quan tâm. Thật vậy, ta thấy rằng lỗi lầm của người cha đã gây nên một
lời nguyền trên con trai mình mà bản thân nó đã không biết. Trong trường hợp
dòng họ Labdacos của Laios, ta thấy rằng sự khốn khổ không chấm dứt với hình
phạt dành cho Oedipe, vì đến lượt ông cũng sẽ đưa ra những lời nguyền trên
chính những đứa con trai của mình.
Tiếp tục lý giải câu chuyện huyền thoại, ta thấy rằng hai
điều lầm lỗi trên, một là sự vi phạm luật lệ và một là sự quan hệ bất chính, sẽ
gây ra một hậu quả là hình phạt xã hội với sự xuất hiện của con nhân sư
(Sphynx) ở ngay cửa thành Thèbes và một hình phạt cá nhân trên hậu thế. Chàng
thiếu niên Oedipe phải trả giá cho lỗi lầm của cha mình (vừa phải diệt con nhân
sư vừa phải thực hiện lời nguyền). Nhưng cùng lúc lại tiếp nối lỗi lầm đó, bởi
một sự vi phạm mới là việc giết cha mình cùng một mối quan hệ bất chính khác là
loạn luân vói mẹ. Một lần nữa, những lỗi lầm đó lại lôi cuốn theo một hình phạt
xã hội (nạn dịch ở Thèbes) và một hình phạt cá nhân (hoàng hậu Jocaste tự vẫn và
Oedipe tự đâm mù mắt mình). Ta tìm thấy trong huyền thoại cái ý niệm mà Murray
Bowen và Boszormenyi-Nagy đã đưa ra về “sự tiếp nối xuyên thế hệ” của một lỗi
lầm và sự nguyền rủa hoặc mặc cảm tội lỗi mà nó gây nên. Nhưng huyền thoại lại
càng biểu hiện rõ rằng hơn nữa khái niệm “đại diện” của Stierlin.
Theo Stierlin, trước khi đạt đến tuổi trưởng thành, người
thiếu niên có thể được hệ thống gia đình cử làm “đại diện” để thực hiện một
nhiệm vụ. Sự đại diện này, cùng với nội dung của nhiệm vụ và cách thức thực
hiện nó thay đổi tùy theo lịch sử gia đình. Nếu sự đại diện (hoặc “ủy quyền”)
này không được thực hiện, người thiếu niên sẽ bị ràng buộc với hệ thống gia
đình bởi những món nợ chưa trả được, làm cho cậu ta không thể rời bỏ được gia
đình gốc của mình để có thể tự lập. Do đó sẽ phát sinh các rối loạn tâm lý hoặc
hành vi (phạm pháp, nghiện ngập...) hoặc bị bệnh (bệnh tâm thể chẳng hạn).
Trong huyền thoại, chính trong lứa tuổi thiếu niên, Oedipe
đã giết cha và giải thoát thành Thèbes khỏi con quái vật Sphynx. Như vậy,
“người đại diện” này đã làm xong nhiệm vụ của mình và có thể sống một cuộc sống
an nhàn nếu trong khi thực hiện nhiệm vụ này đã không kéo theo những thảm họa
mới (giết cha và lấy mẹ). Trong đoạn đầu vở bi kịch của mình, Eschyle đã mô tả
một Oedipe ở đỉnh cao của sự quyền uy và thành công, trong khi lại chưa biết
những nghiệp chướng mà mình đã gây ra. Theo giả thuyết mà tôi muốn trình bày,
sự “đại diện” này không được truyền lại một cách trực tiếp, có ý thức và qua
những lời nói minh bạch; mà ngược lại, nó được truyền lại một cách gián tiếp,
vô thức và qua sự bí mật.
Sự ra đời của Oedipe được giữ kín. Không ai biết được Laios
đã có một đứa con trai và hơn nữa, đứa con trai đó đã giết cha và lấy mẹ. Về
phần mình, Oedipe không biết rằng mình không phải là con của vua thành
Corinthe. Tại Delphes, khi thần tiên tri đã tiết lộ cho ông biết lời nguyền mà
ông là nạn nhân, chính vì không biết gì về hai điều bí mật này mà ông đã trốn
khỏi Corinthe. Chính vì những lời tiên tri đã tiết lộ quá ít hoặc quá nhiều về
những lời nguyền mà không đề cập đến nguồn gốc của nó đã khiến cho Oedipe đi
theo định mệnh của mình mà vẫn tin rằng mình có thể trốn tránh được nó.
Không có bí mật thì không có bi kịch, mà cũng chẳng có huyền
thoại nữa. Điều đã đưa Oedipe đến thành Thèbes không phải là một thông tin trực
tiếp, rõ ràng, mà ngược lại, đó là một lời tiên tri rất mơ hồ, chỉ nói đủ để
người thiếu niên đi theo vận mệnh của mình cho đến cùng. Nhưng không phải ai
cũng là Oedipe và không phải tất cả các gia đình đều có vấn đề với thần thánh.
Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ rằng tất cả các gia đình đều có những bí mật của mình
và những điều đó có một tầm quan trọng đáng kể trên phong cách sống của gia
đình và những bệnh lý mà phong cách đó có thể gây ra.
BÀN VỀ BÍ MẬT
Bí mật là gì?
Bí mật là một thông tin không được truyền lại một cách công
khai và cố tình giấu kín về nội dung, không cho người khác biết một cách có ý
thức thông qua các giao tiếp ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ. Định nghĩa này cho
phép tôi phân biệt giữa “bí mật” và “điều không được nói ra”, vì “điều không
được nói ra” chỉ không được truyền thông bằng lời nói, nhưng vẫn có thể truyền
lại dưới dạng phi ngôn ngữ. Thí dụ: Cha mẹ nuôi có thể giấu kín đứa con nuôi
của mình về nguồn gốc của nó bằng cách không tiết lộ bất cứ yếu tố nào có thể
giúp nó phát hiện ra sự thật. Họ có thể nói dối để giữ kín hơn bí mật đó. Nhưng
trong trường hợp bố mẹ có sự bất đồng ý kiến với cô giáo, mặc dù họ không nói
ra, họ vẫn có thể có những hành vi khuyến khích đứa con không vâng lời cô giáo.
Đây chính là những “điều không được nói ra”.
Tuy nhiên, ta cũng lưu ý là không phải bất cứ điều gì không
được truyền lại cũng là những bí mật. Bí mật là kết quả của sự cố ý không
muốn truyền lại. Vì thế, có rất nhiều điều khi giấu diếm có thể làm cho
cuộc sống của ta thi vị hơn thì không thể gọi là bí mật được. Ví dụ như khi đứa
trẻ làm nhiều cách để giấu cha mẹ về món quà sinh nhật mà nó dành để tặng cho
họ.
Bí mật có thể là điều mà một người chưa bao giờ đề cập đến
với những thành viên trong gia đình giống như trong trường hợp một nhà kinh
doanh thành đạt chưa bao giờ kể cho vợ con mình biết trước đây ông đã bị tù mấy
năm. Một bí mật có thể được chia sẻ với một hoặc nhiều thành viên trong gia
đình như trong trường hợp của một cặp cha mẹ nuôi. Đó là một món quà, nhưng là
một món quà có thể trở thành độc hại cho những người chia sẻ nó.
Còn về những bí mật đã được tiết lộ thì sao? Đó là những bí
mật đã bị “bật mí”. Nó không còn là những bí mật thật sự nữa, mà chỉ còn là
những “điều không được nói ra”, những đề tài không được nêu lên, không được
phép đề cập đến, vì một khi bí mật đã được biết đến thì dĩ nhiên nó không còn
là bí mật nữa. Như trong trường hợp một ông cụ nọ bị thua một ít tiền cá cược,
mọi người đều biết nhưng chỉ đưa ra giễu cợt khi không có mặt cụ, họ không bao
giờ nói cho ông cụ biết và như vậy chỉ có mình ông cụ là người duy nhất giữ cho
mình cái ảo tưởng đây là một điều bí mật.
Bí mật và mặc cảm tội lỗi
Ta hãy trở lại huyền thoại Oedipe. Nền tảng của huyền thoại
và của những bí mật chính là lời nguyền của Héra. Trong ngôn ngữ của huyền
thoại, sự nguyền rủa có thể được xem như là một mặc cảm tội lỗi khi bị thần
thánh áp đặt từ bên ngoài. Thật vậy, khi mà những luật lệ chưa được ấn định thì
chính thần thánh sẽ quy định những điều gì là xấu và những điều gì không bị xem
là xấu.
Trong gia đình của chúng ta thì luật lệ đã được quy định và
không cần đến thần thánh để chỉ cho ta đâu là điều cần làm và điều cần tránh.
Người có hành động xấu, vi phạm gia phong sẽ cảm nhận ngay về những mặc cảm tội
lỗi. Và nếu trong huyền thoại, sự nguyền rủa tạo ra bí mật rồi dẫn đến các bi
kịch, thì trong gia đình những mặc cảm tội lỗi sẽ tạo ra các bí mật và một
chuỗi dài những vi phạm các quy tắc từ đó có thể gây ra tâm bệnh.
Mặc cảm tội lỗi là căn nguyên của bí mật. Nó sẽ tồn tại suốt
câu chuyện vì chính nó làm cho bí mật không được tiết lộ. Nói cách khác, tạo
nên bí mật là để che giấu mặc cảm tội lỗi và những món nợ liên quan đến nó. Một
lần nữa, tôi lại gặp những luận đề của Nagy khi ông nhấn mạnh đến những món nợ của
sự trung thành được truyền từ đời này sang đời kia thông qua “quyển sổ ghi
công-và-nợ” mà mọi người đều phải thường xuyên cập nhật hóa. Thông thường khi
ta muốn che giấu một hành động, một sự kiện, một biến cố, đó là do có liên hệ
đến một mặc cảm tội lỗi làm cho ta xấu hổ, buồn rầu hoặc cảm thấy không thích
lắm vì nó gợi lại cho chúng ta những kỷ niệm đau đớn. Hoặc vì một lý do nào đó,
chúng ta cảm thấy câu chuyện không được ổn, hoặc có thể do nó vi phạm những
nguyên tắc, luật lệ... Và đó chính là những lý do để khởi đầu cho việc hình
thành những bí mật.
Sự hình thành những bí mật
Một bí mật được hình thành khi một luật lệ (công khai hoặc
không công khai) đã bị vi phạm hoặc có nguy cơ bị vi phạm. Theo định nghĩa này,
luật lệ được hiểu là “một nhiệm vụ bắt buộc” (Theo Tự điển Litré) bởi
chính quy định đó hay là do một người khác. Ví dụ: một ông bố trong gia đình
hầu như không bao giờ nhắc đến việc học hành bê bối của mình lúc nhỏ; hoặc bố
mẹ cùng hai con trai lớn trong một gia đình nọ quyết định sẽ không bao giờ đả
động đến chuyện người chị lớn phải có lần nhập viện do dự định tự sát bất
thành; hoặc trường hợp một gia đình khác, những người lớn không bao giờ nói
chuyện trước mặt trẻ con về việc một ông chú trước đây đã đi lính lê dương,
vv...
Những luật lệ thường mang tính đạo đức cá nhân. Một người
cha có thể vi phạm luật giao thông, hoặc giải thích cho con biết mình gian lận
thuế như thế nào, thậm chí còn có thể xui giục con ăn cắp trong siêu thị, nhưng
lại không bao giờ nói đến những lý do vì sao dẫn đến việc ly dị trong hôn nhân
lần thứ nhất của mình.
Sự kiện có khi không nhất thiết có liên quan đến người tạo
ra bí mật. Một phụ nữ có cha mẹ ly hôn sẽ tìm mọi cách để không nhắc đến chuyện
này trước mặt con cái mình. Một số chuyện khác trong gia đình cũng không được
nhắc đến ví dụ việc ông ngoại tự sát hoặc một bà cô kết thúc cuộc đời trong
bệnh viện tâm thần vv... Những ví dụ này giúp ta hiểu được sự việc là khi nêu
lên những vết thương tiềm ẩn mang tính ái kỷ sẽ có thể gây nên một sự hạ thấp
giá trị hoặc đụng chạm đến hình ảnh bản thân nếu bí mật được tiết lộ: ví dụ “là
con của một cặp vợ chồng ly dị”, “là cháu ngoại một người đã tự sát” hoặc là
“cháu của một người điên”... Sự mất phẩm giá, không phải là của cá nhân mà là
của cả gia đình, sẽ làm sứt mẻ hình ảnh của gia đình mà người ta muốn truyền
lại. Tôi sẽ phát triển điểm này khi đề cập đến mối liên hệ giữa bí mật và huyền
thoại gia đình.
Có thể bổ sung thêm là: Một bí mật được hình thành khi một
luật lệ thường mang tính đạo đức (công khai hoặc tiềm ẩn) bị vi phạm hoặc có
nguy cơ bị vi phạm, mà sự vi phạm luật lệ đó dẫn đến hậu quả là làm sứt mẻ hình
ảnh của bản thân cá nhân hoặc của gia đình.
NHỮNG BÍ MẬT CHE GIẤU ĐIỀU GÌ?
Sự hiện hữu của bí mật không cần phải bàn nữa. Ngược lại, do
chính bản chất của nó, những bí mật khó có thể được phân tích và vì thế, nó nằm
ở phần dưới của cái “hộp đen” của gia đình. Ở đây, tôi muốn nêu bật lên những
hệ quả về ý nghĩa và những hậu quả mang tính chất hệ thống và sự hình thành
những bí mật.
Bí mật và sự hiểu biết
Tạo ra một bí mật tức là tạo ra một sự hiểu biết được xem là
“không thể truyền lại được” và được giữ kín đối với người khác. Người giữ bí
mật biết rằng người khác không biết được, và việc tiết lộ hay không là tùy vào
ý muốn của người nắm giữ. Tuy nhiên, có một quan hệ biện chứng giữa người nắm
giữ bí mật và người không biết. Không có kẻ thứ hai thì không có bí mật. Như
Robinson trên hoang đảo của mình, ông không thể có một bí mật nào, ngoại trừ
những bí mật bị dồn nén trong vô thức của chính ông. Nhiều tác giả đã đề cập
đến quan hệ giữa bí mật và vô thức, nên tôi sẽ không trở lại vấn đề này.
Bí mật và uy quyền
Bí mật bao hàm kẻ khác và cũng bao hàm uy quyền trên kẻ
khác. Người ta thường cho rằng, mọi sự hiểu biết đều tạo ra uy quyền. Bí mật
cũng không thoát khỏi quy luật đó, hơn nữa nó còn tạo ra điều ngược lại. Nếu ta
đảo ngược lại mệnh đề “bí mật tạo ra uy quyền” thì ta cũng có thể cho rằng “uy
quyền tạo ra bí mật”. Các nhà xã hội học cũng đã đề cập đến ảnh hưởng của những
“điều không được nói ra” mang tính chất xã hội trên việc hình thành những sự
tha hóa. Do đó, tôi cũng không triển khai thêm vấn đề này.
Nhưng kèm theo uy quyền này do bí mật tạo ra thì có kèm theo
một sự đe dọa: Đó là sự tiết lộ bí mật. Như vậy, đó là một thứ uy quyền bị đe
dọa, một uy quyền yếu ớt (cũng giống như phần lớn các uy quyền). Nếu bị tiết
lộ, thì bí mật sẽ biến mất đi cùng với uy quyền mà nó đem lại. Và có thể người
khám phá ra bí mật đó có thể sử dụng nó để chống lại chính kẻ đã giữ bí mật
trước đó.
Làm thế nào để cấm sự tiết lộ đó? Chỉ có thể bằng cách dựng
lên một số phương tiện kiểm soát. Cũng giống như khi bắt đầu áp dụng một luật
lệ, cần phải có những phương tiện để thi hành, buộc phải tuân theo và kiểm
soát. Khi bí mật muốn được bảo tồn và uy quyền của nó được duy trì thì phải xây
dựng những phương tiện kiểm soát và bảo tồn luật lệ.
Trong một gia đình, khi một luật lệ bị vi phạm và được thay
thế bằng một bí mật, thì chính sự kiểm soát và bảo tồn bí mật sẽ thay thế cho
sự kiểm soát và bảo tồn luật lệ.
Luật lệ bị vi phạm không bị xóa bỏ, nhưng thay thế cho luật
lệ đó sẽ hình thành một luật của gia đình nhắm vào sự bảo tồn bí mật, làm cho
luật lệ trước đây bớt phần quan trọng. Và đến lượt nó, luật lệ gia đình sẽ kéo
theo một sự tổng hợp các quy tắc.
Bí mật và quy tắc
Theo Tự điển Litré, quy tắc là “những quy chuẩn dựa trên
luật lệ, tục lệ và tập quán”. Như vậy, quy tắc không phải là luật lệ nhưng sẽ
định hướng cho những hành vi dựa trên luật lệ. Chính sự sửa đổi luật lệ sẽ kéo
theo sự sửa đổi những quy tắc gia đình làm cho bí mật trở nên có hiệu nghiệm.
Thật vậy, nếu những người không được khai thông về một bí mật nào đó, thì họ
vẫn cảm nhận là người ta vẫn còn giấu diếm một điều gì đó, hoặc có vài vấn đề
gì đó vẫn còn là sự cấm kỵ. Bao giờ bí mật cũng có hai cực: một là cấm hiểu
biết những nội dung của bí mật; hai là cấm không được hiểu và quên đi là có một
bí mật. Nếu không thì cũng chẳng còn có bí mật nào nữa, cũng giống như là nó đã
bị tiết lộ. Ta có thể nói rằng muốn có một bí mật và muốn nó có hiệu nghiệm
cũng như tạo ra uy quyền cho người giữ bí mật đó thì phải có phương tiện kiểm
soát để tránh sự tiết lộ cũng như có phương tiện để nhớ đến nó hầu tránh sự
lãng quên.
Nếu trong gia đình có bà nội tự tử, bà đã vi phạm nguyên tắc
buộc chúng ta không có quyền tự chấm dứt cuộc sống của chính mình. Nhưng bà đã
làm như vậy, có lẽ do chính con cái bà đã không tuân theo luật buộc phải chăm
sóc người già. Điều này cho thấy rằng khi cha mẹ nhận ra lỗi lầm của họ sẽ dẫn
đến việc họ che giấu sai lầm của việc bà nội tự tử. Quy tắc sẽ hình thành trong
gia đình để cấm các thành viên đề cập đến chuyện này. Như vậy, người ta sẽ
không nhắc đến nó, hoặc sẽ trả lời một cách mơ hồ, sai lệch (vd: bà đã mất vì
bị ngưng tim) và dần dần nó sẽ trở thành một điều cấm kỵ. Sau đó, con cháu biết
rằng có một điều bí mật xung quanh cái chết của bà nội, nhưng không biết bí mật
đó là gì. Ngoài ra, nếu đã không đề cập đến cái chết của bà thì tốt hơn hết là
sẽ không nói thêm điều gì về bà nội, và thậm chí về cả ông bà cố, hoặc cả những
mối quan hệ giữa cha mẹ và ông bà nội nữa... Như vậy, người ta sẽ phát triển
cái mà Nagy gọi là “sự cố định quan hệ” tức là khu vực của những điều không
được nói ra và dần dần bí mật sẽ lan tỏa ra như một giọt dầu.
Nếu bí mật thật sự là quan trọng, những quy tắc mà nó tạo ra
sẽ trở nên chiếm ưu thế trong sự vận hành gia đình. Tuy vậy, những quy tắc
thường rất ít khi minh bạch vì chúng thường gắn liền với một bí mật. Do đó,
chúng thường được truyền lại một cách vòng vèo và sẽ được người khác nhận ra
cái mà Ferreira gọi là “huyền thoại gia đình”.
Bí mật và huyền thoại
Theo Ferreira, huyền thoại gia đình là “một số điều tin
tưởng được hệ thống hóa và được toàn bộ thành viên gia đình chia sẻ về vai trò
của từng người trong gia đình và về bản chất của những mối quan hệ giữa họ với
nhau”. Nói cách khác, huyền thoại phản ánh hình ảnh mà gia đình muốn gắn cho
mình, cho dù hình ảnh đó có phù hợp với thực tế hay không. Ngoài ra, huyền
thoại sẽ càng mạnh nếu nó không phù hợp với thực tế. Một gia đình mà sự vận
hành theo kiểu dễ thích ứng, dễ thay đổi và mở rộng sẽ ít có khả năng để thiết
lập một huyền thoại, ngoại trừ cái huyền thoại là “không có huyền thoại”! Ngược
lại, một gia đình có sự vận hành cứng nhắc bởi những quy tắc đã được ấn định
một cách khắc khe lại phải cố gắng hơn để phù hợp với cái huyền thoại do chính
mình thành lập, vì điều này được xem như là pháo đài cuối cùng để chống lại sự
rối loạn.
Như trong thí dụ đã nêu, quy tắc ngăn cản việc nói đến cái
chết của bà nội sẽ kéo theo một số quy tắc mới, mà theo đó người ta sẽ không
nói đến chủ đề “quan hệ cha mẹ - con cái”. Và từ đó có thể nảy sinh bên trong
gia đình này một huyền thoại là không bao giờ giữa cha mẹ và con cái lại có vấn
đề, đến nỗi không cần phải nói đến nữa. Bất cứ ai muốn xem xét hoặc công kích
huyền thoại này sẽ làm cho cả gia đình gắn bó lại với nhau để gạt bỏ nỗ lực
này. Như vậy, huyền thoại có chức năng che giấu một quy tắc bắt nguồn từ trực
tiếp hoặc có liên hệ ít nhiều đến một bí mật, bằng cách làm cho chính quy tắc
đó trở nên dư thừa.
Huyền thoại gia đình có thể mới có hoặc đã có từ lâu đời, ví
dụ có những gia đình mà quy tắc vận hành tưởng chừng như đã được ấn định từ
thời ông tổ đã từng tham gia cuộc thập tự chinh. Hãy thử công kích một huyền
thoại lâu đời như thế xem! Ta có thể nhận định rằng bí mật, quy tắc và huyền
thoại gắn liền một cách chặt chẽ với nhau và có tính lưu truyền.
Bí mật và sự quân bình nội môi
Đối với sự quân bình nội môi (homeostasis) thì những
bí mật, quy tắc mà nó dựng nên, cũng như những huyền thoại mà nó tạo ra, giúp
nó tránh được những thay đổi bị xem là “nguy hiểm”. Nói cách khác, chính những
điều này góp phần vào việc quân bình nội môi, tức là hình thái lý tưởng của một
hệ thống không thay đổi.
Nếu trong giai đoạn đầu bí mật có thể hữu ích, thì sau đó nó
có thể nhanh chóng trở thành những lực cản, ngăn chận mọi sự thay đổi thực sự
và mọi sự tiến hóa của hệ thống gia đình. Hệ thống này sẽ hướng đến việc khép
kín ngày càng mạnh hơn, dẫn đến sự nghèo nàn về thông tin và sự xơ cứng về cơ
cấu.
Vì “bệnh nhân chỉ định” thường là “thành viên tiêu biểu và
duy trì sự quân bình nội môi” của gia đình, nên ta không ngạc nhiên khi thấy
rằng người đó có tính tiêu biểu một cách mạnh mẽ cho cái nghịch lý giữa cái bí
mật mà gia đình muốn giấu kín và cái huyền thoại mà gia đình muốn đề cao. Hơn
cả những người khác, đối với người bệnh ấy điều này thậm chí còn càng không
được biết và lại càng không được quên.
Tình trạng của những đứa bé bị loạn tâm mang tên một người
anh đã mất là một thí dụ điển hình nhất. Trẻ thường không biết đến người anh đã
mất, mặc dù trẻ là một kỷ niệm sống của người anh, vì mang tên của người anh và
được xem là đại diện cho người ấy đến nỗi trẻ không có quyền có được một cuộc
sống riêng biệt cho mình.
Những huyền thoại gia đình có một ảnh hưởng quyết định đến
vai trò do hệ thống gia đình quy định nhằm duy trì sự quân bình nội môi.
Bí mật và vai trò
Ta vừa đề cập đến bệnh nhân chỉ định và vai trò của người
này nhằm duy trì sự quân bình nội môi. Vai trò đó khiến cho người này được mang
nhãn hiệu “con bệnh” của hệ thống. Ferreira đã chứng minh rằng vai trò này kéo
theo những “vai trò đối nghịch” với các thành viên khác của hệ thống, tức là
những người “không bị bệnh”. Một phụ nữ xem chồng mình là người nghiện rượu thì
mặc nhiên cũng sẽ xem mình là một người không nghiện rượu, dù bà công nhận đôi
khi bà cũng uống đôi chút.
Ở đây, ta gặp lại những phân tích của các nhà xã hội học về
sự tương tác và đặc biệt là những người quan tâm nghiên cứu những hiện tượng
lệch lạc. Họ đã chứng minh rằng những người có hành vi “lệch lạc” sẽ giúp cho
những người khác trong hệ thống xem mình là “không lệch lạc”, họ cũng chứng
minh rằng chính những hành vi lệch lạc đã củng cố sự gắn kết của một hệ thống xã
hội nhất định.
Như vậy thì quy tắc, huyền thoại và vai trò đóng góp cho
việc duy trì sự quân bình nội môi. Nếu sự quân bình nội môi có ích cho sự vận
hành của hệ thống, thì tại sao trong một số trường hợp nó lại tạo ra sự vận
hành mang tính bệnh lý và những bí mật có đóng vai trò gì trong việc làm gia
tăng tính chất đó hay không?
Bí mật và xu hướng tiêu vong (vì bị tiêu hao năng
lượng)
Khái niệm xu hướng tiêu vong được lý thuyết tổng quát về hệ
thống rút ra được từ môn nhiệt động học. Xuất phát từ nguyên lý thứ hai của
Carnot, khái niệm này có thể được xem là thước đo sự rối loạn của một hệ thống.
Khái niệm này mang một giá trị âm. Và trong một hệ thống
khép kín, bao giờ nó cũng tăng và tương đương với số Không (0). Thật vậy, khi
năng lượng được tiêu dùng, bao giờ nó cũng bị hao hụt, hay nói cách khác là nó
mang lại một hiệu suất kém hơn một đơn vị. Muốn làm giảm sự tiêu hao năng lượng
của một hệ thống sử dụng nhiệt năng, ta phải đưa thêm năng lượng từ bên ngoài
vào, khi ấy ta làm tăng xu hướng phản tiêu hao. Còn trong hệ thống của con
người, điều quan trọng không phải là năng suất về năng lượng, mà chính là sự
trao đổi, giao tiếp.
Khi một hệ thống giao tiếp không nhận được những thông tin
mới, thì sự giao tiếp ngày càng trở nên nghèo nàn, hay nói cách khác là xu
hướng tiêu hao ngày càng tăng, và do đó, trật tự chức năng bị suy giảm, điều đó
sẽ biểu hiện bằng sự xuất hiện của một tình trạng rối loạn chức năng hoặc ngược
lại, bằng một sự tái cấu trúc bề ngoài, sự hình thành những quy tắc và những
vai trò cứng nhắc. Trong trường hợp thứ hai, thật ra đó không phải là một trật
tự thật sự mà chỉ là một trật tự giả tạo được áp dụng trong hư không, đã đánh
mất cái mục đích của nó, hay nói đúng hơn là một trật tự đã tự lấy mình làm mục
đích tối hậu. “Trật tự cho trật tự” thật sự chính là sự gia tăng xu hướng tiêu
hao. Nghĩa là một sự rối loạn ngày càng tăng vì trật tự chỉ có thể phục vụ cho
một mục đích vượt khỏi nó, hoặc theo Russell thì nó thuộc về một trình độ lôgíc
khác. Khi trong một gia đình mà trật tự chỉ phục vụ cho chính nó chứ không phục
vụ cho việc vận hành của hệ thống gia đình thì ta có thể xem nó như một cỗ máy
chạy không tải, không có khả năng đáp ứng những mục đích mà nó đã đề ra. (Đó là
cách để nhận định về những gì ta có thể thấy trong các gia đình có người bị
bệnh tâm thần phân liệt)
Theo định nghĩa, bí mật là một thông tin không được truyền
lại và điều đó thường tạo ra một không gian cho sự ổn cố về mặt quan hệ, tức là
sự tắc nghẽn trong khả năng giao tiếp, do đó ta có thể nghĩ rằng những bí mật làm
tăng trưởng xu thế tiêu hao của hệ thống gia đình.
Bí mật và sự chuyển giao đa thế hệ
Tôi có một người có những ý kiến mà tôi rất quý, khi biết
tôi có sự quan tâm đến chuyên đề bí mật, anh cũng cho biết là chính anh cũng
từng muốn khám phá bí mật của gia đình mình. Nhất là từ khi anh trở thành cha
của một đứa trẻ mà anh không thể nhìn nhận vì anh đã có gia đình. Biến cố đó có
một tác động rất lớn trên gia đình gốc của anh vì anh vẫn thường đến thăm con
riêng của mình hằng tuần. Anh bị mọi người chê trách và chỉ tìm được sự an ủi
bên cạnh một ông chú nghiện rượu và cũng bị gia đình khai trừ!
Ông chú ấy cũng có một mối quan tâm như anh vì chính ông
từng muốn tìm nguồn gốc của gia đình và sự ra đời danh hiệu của dòng họ. Đây là
những gì ông đã tìm ra: Người thành lập dòng họ và cho nó mang họ mình chính là
một người phụ nữ buôn hương bán phấn. Là bà cố đời thứ ba, bà đã sinh ra một
đứa con trai và cho nó mang họ mẹ. Từ đó, bí mật được giữ kín và đã phát sinh
ra huyền thoại về một dòng họ Công giáo đáng kính. Thật vậy, gia đình anh bạn
tôi đã lựa chọn anh như một đại diện cho dòng họ khi muốn hướng anh vào con
đường tu hành. Anh đã không tuân theo huyền thoại và rời bỏ dòng tu. Khi kết
thúc câu chuyện, anh nói: Rốt cuộc là gia đình tôi mang họ của một người đàn
bà, giống như con của chính tôi lại mang họ mẹ nó! Thật vậy, anh chỉ nhận thức
rằng anh đã thực hiện những gì anh mới nêu ra khi tôi lưu ý anh đã vô tình làm
cho huyền thoại có tác dụng khi anh từ chối nó.
Thí dụ này giúp ta có một số nhận định khá thú vị. Trước hết
đây là một thí dụ rất hay về sự chuyển giao đa thế hệ của bí mật. Người chuyển
giao bí mật và người tiếp nhận nó đều bị đặt ra ngoài lề của huyền thoại gia
đình về sự đáng kính. Một tiền sử chẳng hay ho gì là nội dung của bí mật, điều
này hình như không gây nên bệnh lý đặc biệt gì nhưng lại tạo ra một lối sống
đặc biệt cho gia đình. Người xa lánh huyền thoại cũng sẽ là người làm cho nó có
tác dụng. Thật vậy, người ấy vừa lập lại bí mật gia đình khi có một đứa con
ngoại hôn, vừa làm cho truyền thống gia đình (đúng hơn là lịch sử gia đình) bị
đứt đoạn khi không thể truyền lại họ của mình cho đứa con.
Người ta có thể nghĩ rằng sự lập lại của một tình trạng từ
thế hệ này sang thế hệ khác như trên chỉ là sự tình cờ. Những có những thí dụ
tương tự làm tôi nghĩ rằng sự hình thành một bí mật là một phương tiện, có lẽ
tốt nhất, để chuyển giao một thông điệp từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Để minh họa, tôi xin giới thiệu một chi tiết của bài “Bức
thư bị giấu” của Edgar Poe: “Không ai tìm ra bức thư này, mặc dù đã lục soát kỹ
nhiều lần, trong khi nó lại được đặt một cách lộ liễu ngay trên lò sưởi”. Tác
giả đưa ra kết luận rằng tốt hơn hết nên đặt một cách lộ liễu trước mắt mọi
người cái điều mà ta muốn giấu, hoặc ngược lại, nơi có thể giấu kỹ nhất chính
là những chỗ đặt trước mắt mọi người. Và ta có thể tiếp tục suy diễn về nghịch
lý ấy khi nói rằng một việc càng sáng tỏ bao nhiêu thì càng ít được hiểu rõ bấy
nhiêu.
Tôi có thể cắt nghĩa bằng giả thuyết sau đây: Thông điệp
biến thành bí mật sẽ được truyền qua chính những quy tắc làm cho nó bị cấm tiết
lộ. Làm sao giải thích nghịch lý này? Chính những nguyên tắc ngày càng trở nên
quan trọng qua trung gian những sự cố định quan hệ và những món nợ về sự trung
thành mà nó tạo nên. Tầm quan trọng của những quy tắc này lớn đến nỗi nó làm
sáng tỏ những điều mà lẽ ra nó phải che giấu. Nhưng cũng chính vì sự sáng tỏ
này mà không ai trong hệ thống gia đình có thể hiểu được thông điệp mà nó chứa
đựng.
Những quy tắc càng gò bó thì nguy cơ vi phạm càng cao. Đó là
số phận của nó – Điều mà tôi muốn chứng minh thông qua các thí dụ lâm sàng là
sự vi phạm sẽ tiết lộ bí mật bằng cách tác động đến nó.
Trong một câu chuyện cổ tích, Barbe-Bleue (Yêu râu xanh) có
một bí mật tối quan trọng, đó là cái chết bí ẩn của 7 người vợ trước của ông.
Khi ông phải đi vắng và sợ là bí mật sẽ bị phát hiện, ông đã đưa ra một quy tắc
là cấm bà vợ cuối của ông không được sử dụng chiếc chìa khóa vàng để đi vào căn
phòng cuối cùng trong ngôi nhà. Dù vậy, ông vẫn giao cho bà vợ chiếc chìa khóa
vàng! Chiếc chìa khóa vàng được xem là một biểu tượng cho khả năng mà chúng ta
có thể khám phá điều bí mật và nỗi nguy hiểm của sự khám phá ấy đem lại. Trong
các gia đình, người ta thường hay vô tình trao chiếc chìa khóa của các căn
phòng cấm trẻ em vào, rồi lại hy vọng và tin rằng chúng sẽ không dám sử dụng vì
e sợ! Đó phải chăng là ý nghĩa của truyện cổ tích này?
Bí mật và tính luân chuyển
Khi nói đến những người hay dựng nên những bí mật, tôi không
có ý nói rằng họ là căn nguyên của sự bí mật. Chính bản thân họ cũng chịu sự
chi phối của những luật lệ, cũng phải đảm nhiệm một vai trò, cũng bị ràng buộc
bởi những món nợ của sự trung thành. Sự hình thành của một bí mật chỉ có thể
hiểu được nếu ta đặt nó trong một viễn cảnh sẵn có của một hệ thống đang hướng đến
sự quân bình nội môi thông qua những những sự điều chỉnh không ngừng bằng những
tác động phản hồi. Nói một cách khác, bí mật xuất hiện chính ở khúc quanh của
một dây chuyền các phản hồi và các tác động qua lại, mà tác giả chỉ là người
chịu tác động bởi sự vận hành của hệ thống.
Đứng trên quan điểm hệ thống về sự luân chuyển, ta cũng
không thể chỉ xem bí mật như là yếu tố tạo nên các quy tắc, huyền thoại và vai
trò mà nó kéo theo. Bí mật vừa tạo ra, vừa được tạo ra bởi các quy tắc ấy, và
chính những quy tắc đó lại vừa tạo dựng, vừa được tạo dựng bởi các bí mật.
Những thông tin bị giấu kín, bí mật, quy tắc, huyền thoại và vai trò... chỉ là
những yếu tố làm cho hệ thống gia đình tiếp tục được vận hành nhằm duy trì sự
quân bình nội môi.
Bí mật và những giai đoạn tối quan trọng
Jay Haley cho thấy rằng, những giai đoạn lớn trong đời sống
gia đình là những lúc có một người bước ra khỏi hoặc gia nhập vào hệ thống gia
đình. Những giai đoạn đó thường gây ra một cơn khủng hoảng trong hệ thống, vì
chúng tiêu biểu cho “một sự thay đổi đã được dự đoán”. Minuchin cũng cho thấy
là chính vào lúc đó đã diễn ra những sự thay đổi về các đường ranh giới và sự
tổ chức lại các mối liên kết. Do những thay đổi này, những giai đoạn ấy thường
là lúc mà các bí mật được hình thành hoặc được tiết lộ.
Trong thí dụ về một bà cố là gái bán hoa ngày xưa, thì sự ra
đời nhục nhã (của một dòng họ) mà người ta muốn giữ kín lại được tiết lộ nhân
dịp một sự ra đời khác (của một đứa con) không được thừa nhận! Sự ra đời của
những đứa con cũng là lúc mà các cặp vợ chồng quyết định những điều họ muốn
hoặc không muốn tiết lộ cho con của mình. Nhưng chính trong giai đoạn thiếu
niên và lúc bắt đầu hội nhập vào cuộc sống người lớn mới thật sự là những lúc
mà các bí mật trở nên quan trọng. Nhu cầu giữ kín của thiếu niên, những ranh
giới và những liên kết mới tạo ra do sự hiện diện của đứa con thiếu niên, sự
thay đổi các quy tắc gia đình do vị trí mới của thiếu niên mang lại... đều là
những lý do tạo nên những bí mật. Ngoài ra, khi nhu cầu về ý nghĩa trùng hợp
với sự tìm kiếm bản thân, khi hệ thống cảm thấy cần đến việc tự định nghĩa lại,
khi tình trạng khủng hoảng của tuổi thiếu niên tạo ra những căng thẳng, tất cả
những lúc ấy đều là lý do để có thể tiết lộ các bí mật.
Khi ta biết những mối liên hệ gắn liền những bí mật và biểu
hiện bệnh lý, ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy rằng bí mật và sự bộc phát bệnh
lý thường trùng hợp với những giai đoạn quan trọng của gia đình.
THAY CHO KẾT LUẬN
Trị liệu gia đình vượt lên trên sự cấm kỵ của trị liệu cá
nhân và bí mật trong quan hệ tay đôi. Do đó, nó có thể có những vấn đề. Sau đây
là một số nhận định khi cần áp dụng trên thực tế:
1. Không nên “tấn công” thẳng vào các
bí mật và cũng không nên tìm cách khám phá bí mật bằng mọi giá. Cũng như Haley
đã nói: “Khi vừa muốn nghiên cứu, vừa muốn trị liệu thì e rằng ta sẽ làm dở cả
hai vai trò. Với tư cách là nhà nghiên cứu, ta có thể rất quan tâm đến bí mật,
nhưng việc khám phá ra bí mật chưa hẳn đã giúp ích cho việc trị liệu gia đình.
Tấn công vào bí mật có thể làm ta mất khả năng liên kết với sự quân bình nội
môi.
2. Phải bao vây bí mật, xác định nó,
xem nó là những dấu vết mà ta cần phải xem xét, như những miếng bánh mà ta phải
ăn một cách thận trọng. Làm cho thông tin được lưu hành sẽ tăng cường khuynh
hướng chống lại sự tiêu vong, và điều này làm cho sự vận hành chức năng của hệ
thống gia đình được tốt hơn.
3. Ta không nên rơi vào cái bẫy của
những bí mật giả tạo, những tiết lộ giả tạo, những thông tin được phổ biến
không chính thức vào cuối các buổi gặp gỡ hoặc những bức thư được giao trong
các buổi họp, có thể làm cho ta nghĩ rằng đó là do một thành viên trong gia
đình đã tin tưởng ta và tìm cách thổ lộ. Đứng về phương diện hệ thống, mục đích
duy nhất của các hành vi trên là làm cho ta bó tay.
Phân tâm học đã nêu bật tầm quan trọng của những bí mật mà
chúng ta tạo nên cho chính bản thân mình, bằng cách đè nén nó vào vô thức, và
giữ nó lại trong bối cảnh nguyên thủy. Bí mật giống như yếu tố sáng lập, theo
cách thức đặt vấn đề trong huyền thoại Oedipe. Cách tiếp cận hệ thống đã phát
hiện ra tầm quan trọng của bí mật trong động lực gia đình (family dynamic).
Bệnh lý của một thành viên trong hệ thống gia đình cho ta
thấy, có thể đó là kết quả của vai trò đã được giao cho người đó, và nói cho
cùng có thể là do sự bí mật hàm chứa vai trò đó. Nghịch lý ở chỗ, bệnh lý đã
làm cho bí mật được hé mở nhưng ta lại không thể khám phá nó. Áp dụng giả
thuyết đó cho những hành vi lệch lạc tuổi thiếu niên, tôi nghĩ rằng nó có thể
áp dụng cho những loại bệnh lý khác.
Ta hãy kết thúc bằng một câu hỏi mang tính chất đặt vấn đề:
Sự mê sảng phải chăng là ngôn ngữ huyền bí của bí mật về cái chết, là sự chuyển
sang hành động, là sự dàn cảnh của một bí mật đầy bạo lực hoặc đáng hổ thẹn.
Còn hành vi nhiễu tâm, là sự trình diễn hằng ngày của vô số bí mật làm nền tảng
cho nhân loại chúng ta?
[1] Câu chuyện huyền thoại về Oedipe đã
được mọi người biết rõ, ở đây tác giả không nhắc lại chi tiết trong bài viết
của mình.
Nguồn
bài vết: http:// www.tamlytrilieu.com