KHIẾM KHUYẾT VỀ QUAN HỆ XÃ
HỘI :
•
Không
cười ở tháng thứ 3 và không phản ứng người lạ ở tháng thứ 8.
•
Là
đặc điểm trung tâm của bệnh tự kỷ (Kanner, 1943). Trẻ tự kỷ có khuynh hướng
tránh tiếp xúc và ít biểu lộ sự lưu tâm đến giọng nói của người khác.
•
Chúng
không thay đổi tư thế hoặc không giơ tay khi sắp được bồng bế như trẻ bình
thường.
•
Cảm
xúc thờ ơ, vẻ mặt không diễn cảm.
•
Ở
trẻ tự kỷ có trí tuệ khá, dấu hiệu khiếm khuyết quan hệ xã hội có thể không rõ rệt
cho đến năm 2 tuổi.
•
Lúc
nhỏ, trẻ có thể tránh tiếp xúc bằng mắt (eye contact), ( cái nhìn ngoại
vi) hoặc nhìn như thể người đối diện trong suốt (cái nhìn xuyên tường) nhưng có
thể chấp nhận nếu được vuốt ve và đặt ngồi trong lòng mẹ.
•
Tuy
nhiên, trẻ thường không phát triển hành vi gắn bó, không đi theo bố mẹ trong
nhà.
•
Hầu
hết trẻ tự kỷ không sợ người lạ, không lo âu khi chia lìa bố mẹ. Không chơi
chung với trẻ cùng tuổi và chủ động tránh những trẻ này.
•
Khi
lớn lên, trẻ có thể phát triển khả năng gắn bó với cha mẹ và những người lớn
khác. Một số trẻ có thể chơi chung với bạn hoặc tham gia một số trò chơi vận
động thể lực.
•
Tuy
nhiên trẻ vẫn khiếm khuyết về mặt xã hội. Trẻ thường ít quan tâm đến trò chơi
nhóm và không thiết lập được quan hệ với bạn cùng tuổi. Tuổi đi học: Tiếp xúc
nghèo nàn, không chơi với trẻ cùng lứa, không đồng cảm, không biết được phản
ứng của người khác: nói và làm những điều không thích hợp về mặt
xã hội.
CÁC VẤN ĐỀ VỀ
GIAO TIẾP
Khiếm khuyết giao tiếp phi
ngôn ngữ
•
Lúc
nhỏ, trẻ thường biểu lộ nhu cầu qua tiếng khóc. Lớn lên, trẻ biểu lộ ý muốn
bằng cách kéo tay người lớn đến vật mong muốn. Thường khi đó, trẻ không diễn
cảm qua nét mặt.
•
Không
biết chỉ tay, không biết gật đầu, lắc đầu.
•
Không
tham gia các trò chơi bắt chước. Không có khả năng bắt chước làm theo những
việc làm của bố mẹ như những trẻ bình thường vẫn làm.
•
Không
hiểu được ý nghĩa của những cử chỉ, điệu bộ của người lớn.
•
Trẻ
lớn, đôi khi có thể sử dụng và có khi hiểu được cử chỉ điệu bộ của người lớn. Một
số trẻ đạt đến khả năng chơi bắt chước, nhưng cách chơi thường vẫn có tính rập
khuôn và lập đi lập lại.
•
Nói
chung, trẻ tự kỷ vẫn có thể biểu lộ cảm xúc vui, sợ, giận dữ… nhưng cách thể
hiện có khuynh hướng cực đoan. Nét mặt thường không diễn tả ý nghĩa. Một số trẻ
hầu như thể hiện nét mặt vô cảm.
Không hiểu lời nói
•
Có
thể từ nhẹ đến mức độ chẳng bao giờ hiểu được lời nói.
•
Ở
mức độ nhẹ, trẻ có thể tuân theo những chỉ dẫn đơn giản, nếu chỉ dẫn được đưa
ra đúng bối cảnh tức thời, hoặc có kèm theo những cử chỉ, điệu bộ minh họa
tương ứng.
•
Trẻ
bị khiếm khuyết khả năng hiểu những ý nghĩa trừu tượng và tinh tế.
•
Tính
hài hước và diễn đạt thành ngữ cũng bị nhầm lẫn ngay cả ở những trẻ tự kỷ thông
minh nhất.
Khiếm khuyết về phát triển
lời nói
•
Nhiều
trẻ tự kỷ ít bập bẹ trong năm đầu tiên. Gần phân nửa trong số 11 trẻ tự kỷ của
Kanner vẫn câm nín cho đến 5 tuổi.
•
Khiếm
khuyết về ngôn ngữ là một trong những tiêu chuẩn chính để chẩn đoán tự kỷ, trẻ
có thể không nói, phát ra những âm vô nghĩa hoặc các âm thanh lập đi lập lại.
•
Khoảng
1/2 trẻ tự kỷ sẽ bị câm nín suốt đời (Ricks & Wing, 1976).
•
Nếu
trẻ phát triển lời nói, thường lời nói cũng sẽ có bất thường. Nhiều trẻ nói vô
nghĩa, nói vẹt (echolalia: nhại lời). Trẻ có thể nhại lại lời nói của
người khác một cách chính xác, nhưng thường ít hoặc chẳng hiểu được ý nghĩa của
chúng. Nhại lời nặng có thể khiến câu cú bị méo mó và rời rạc. Một số trẻ có
thể sao lại chính xác những cụm từ của người khác nói, đôi khi nhại đúng cả âm
sắc giọng nói.
•
Trong
giai đoạn đầu của sự phát triển ngôn ngữ, có thể có hiện tượng hoán đổi đại từ
nhân xưng.
•
Giọng
nói có thể giống robot, đặc trưng bởi sự đơn điệu, phẳng lặng, không thay đổi,
ít nhấn giọng và không diễn cảm.
•
Một
số trẻ nói với mục đích “tự kích thích”, lời nói có tính chất lập đi, lập lại,
không liên quan đến những việc thực sự đang diễn ra xung quanh (Lovaas, 1977).
•
Trẻ
nhỏ có thể gặp các vấn đề về phát âm, khi lớn lên tình trạng này có thể giảm.
•
Đối
lập với khả năng nhại lời chính xác, những lời nói tự nhiên của trẻ lại có nội
dung rất nghèo nàn, vốn từ ít ỏi.
•
Có
thể dùng kiểu nói như đang hát, kéo dài một số âm hoặc từ nào đó trong câu. Câu
nói thường được kết thúc kiểu câu hỏi (lên giọng ở cuối câu).
•
Cấu
trúc ngữ pháp bất thường, không thành thục, thường gặp trong lời nói tự nhiên
của trẻ.
•
Trẻ
tự kỷ có thể đặt tên riêng cho đồ vật theo cách của mình, hoặc dùng những từ
riêng mà người khác không thể hiểu được .
•
Không
biết sử dụng hoặc sử dụng không đúng các giới từ, liên từ và đại từ.
•
Trẻ
có khuynh hướng không sử dụng lời nói để giao tiếp. Thường nói rập khuôn, lập
đi lập lại.
•
Không
biết dùng lời nói để diễn tả ý trừu tượng. Không biết nói về chuyện quá khứ,
chuyện tương lai hoặc chuyện không xảy ra trước mắt.
•
Tiến
bộ hơn, một ít trẻ tự kỷ có thể nói về điều trẻ quan tâm, nhưng một khi người
lớn đáp ứng và bắt đầu nói chuyện với trẻ thì trẻ lại bỏ dở và rút khỏi cuộc
nói chuyện ấy. Nói chung, trẻ vẫn thiếu khả năng tương tác qua lại.
•
Nói
nhiều hơn hiểu( trẻ bt tiếp nhận ngôn ngữ và hiểu ngôn ngữ trước khi biết nói).
•
Không
có khả năng bắt chước.
•
Không
hiểu các từ trừu tượng.
Hành vi bất thường
Trò chơi: Theo
mốc phát triển của Spitz:
•
Xây
tháp với các khối lúc 12 – 14 tháng
•
Cho
búp bê ăn hay nói chuyện điện thoại đồ chơi khi 16 – 18 tháng
•
Chơi
giả bộ phức tạp khi 18-20 tháng
( cho ăn, thay đồ, đặt búp bê hay gấu bông lên giường ,đẩy xe, chơi trò
lái xe đi làm, đậu xe).
Chống lại sự thay đổi.
Trẻ tự kỷ thường khó chịu
trước những thay đổi trong môi trường sống quen thuộc của chúng. Một sự thay
đổi nhỏ trong thông lệ thường ngày có thể làm trẻ nổi cơn tam bành.
Nhiều trẻ hay xếp đồ chơi
và vật dụng thành hàng dài và rất khó chịu nếu như trật tự này bị thay đổi.
Hiện tượng này gặp ở trẻ tự kỷ có chậm phát triển trí tuệ nhiều hơn gấp hai lần
so với trẻ tự kỷ có trí thông minh bình thường (Bartak & Rutter, 1976).
Hầu hết trẻ tự kỷ đều
chống lại việc học và thực hành một hoạt động mới.
Hành vi mang tính nghi thức, thúc ép :
Các hành vi mang tính nghi thức, thúc
ép thường liên quan đến những thông lệ cứng nhắc như: từ chối ăn một loại thức
ăn nào đó; hoặc là những hành vi có tính rập khuôn, lập đi lập lại, vd: vung
vẩy hai cánh tay, hoặc đưa bàn tay lên gần mặt rồi xoắn vặn hoặc bật bật các
ngón tay.
Trẻ lớn có thể phát triển
các hành vi mang tính ám ảnh, vd: hỏi đi hỏi lại cùng một câu hỏi, và các hành
vi có tính thúc ép, vd: hay sờ đụng vào một số đồ vật nào đó.
Các hành vi mang tính
nghi thức, thúc ép thường xảy ra ở bệnh nhân tự kỷ không bị chậm phát triển trí
tuệ hơn là bệnh nhân có trí tuệ kém (Bartak & Rutter, 1976).
Những sự gắn bó bất thường :
Nhiều trẻ tự kỷ có sự gắn
bó mạnh mẽ với những đồ vật khác thường, như: một món đồ chơi nào đó như trái
banh chẳng hạn. Trẻ có thể luôn mang theo món vật đó bên mình, và nếu có ai đó
lấy vật này đi thì trẻ sẽ giận dữ, phản kháng lại ngay. Nếu vật này vẫn không
được trả lại, trẻ thường sẽ quay sang tìm kiếm một món đồ khác để thay thế. Gắn
bó một cách bất thường vào chi tiết , hình
thức đặc biệt của đồ vật mà không quan tâm đến sự sử dụng thực sự của nó,
thường có kèm các động tác liếm và ngửi.
• Các đáp ứng không bình thường với những trải nghiệm giác quan.
Trẻ tự kỷ có thể bị mê hoặc bởi các
bóng đèn, các hoa văn, những vật có chuyển động xoay tròn, hoặc một thứ âm
thanh nào đó.
Trẻ thao tác trên đồ vật,
đồ chơi không theo các cơ năng thông thường của món đồ đó, mà như để thỏa mn sự
kích thích của cc gic quan. Không trả lời khi được gọi tên nhưng phản ứng rất
nhanh với các âm thanh: tiếng tic tắc của đồng hồ đeo tay, xào xạc của lá cây...Say
mê với những âm thanh tự tạo ra như gãi hoặc gõ vào các đồ vật, không sợ nguy
hiểm.
Trẻ có thể kiên trì làm
đi làm lại các thao tác xếp đồ vật thành hình dài, xếp chồng đồ vật lên nhau
hoặc xoay một món đồ để nó xoay tròn. Trẻ cũng có thể làm đi làm lại những việc
như dội nước bồn cầu hoặc liên tục tắt mở các bóng đèn.
Tuy tránh né các tiếp xúc
cơ thể, nhưng một số trẻ tự kỷ rất thích các trò chơi mạnh bạo, vd: tung hứng,
cù lét, đánh đu, “bay tàu bay”…
Rối loạn về vận động
•
Các
mốc chuyển tiếp trong phát triển vận động có thể bị chậm trễ.
•
Trẻ
nhỏ thường gặp khó khăn trong việc bắt chước các động tác.
•
Nhiều
trẻ rất hiếu động, nhưng sẽ giảm bớt khi đến tuổi thiếu niên.
•
Hay
nhăn nhó, vỗ đập cánh tay, xoắn vặn bàn tay, đi nhón gót, chạy chúi đầu về phía
trước, nhảy, đi đều bước, lắc lư hoặc đu đưa thân mình, xoay đầu hoặc đập đầu
xuống đất, vào tường.
•
Một
số trẻ có trạng thái căng cơ khi phấn khích hoặc khi quá chăm chú.
Các khiếm khuyết về trí
tuệ và nhận thức
•
Hầu
hết trẻ tự kỷ đều có chậm phát triển trí tuệ (Rutter, 1978). Khoảng 40-60% có
IQ < 50. Chỉ khoảng 20-30% có IQ > 70. Do đa số trẻ tự kỷ khó làm
các test trí tuệ (nhất là các test dùng lời nói) nên các kết quả IQ vẫn còn bàn
cãi .
•
Trẻ
tự kỷ có IQ thấp thường kèm theo các khiếm khuyết nặng về kỹ năng quan hệ xã
hội và có nhiều đáp ứng xã hội lệch lạc, vd. hay sờ mó hoặc ngửi đồ vật và
người khác, có những hành vi định hình và tự gây thương tích bản thân (Bartak
và Rutter, 1976).
•
1/3
trẻ tự kỷ có chậm phát triển trí tuệ sẽ bị động kinh, còn trẻ tự kỷ có trí tuệ
khá thì tỷ lệ này thấp hơn (Rutter, 1978). Vì vậy, IQ cũng phần nào có ý nghĩa
tiên lượng.
•
Khác
với những trẻ chậm phát triển tâm thần, tình trạng chậm phát triển của trẻ tự
kỷ vẫn còn chừa lại những “khoảng” trí tuệ bình thường hoặc gần như bình thường
(thể hiện trong phần thao tác của các test trí tuệ).
•
Kanner
(1943) cũng lưu ý đến khả năng của trí nhớ xa ở các trẻ tự kỷ. Các kỹ năng đặc
biệt của trẻ tự kỷ thường thuộc các lĩnh vực âm nhạc, cơ học và toán học.
•
Lockyer
(1967) cho rằng trẻ tự kỷ thường có khả năng trội về thao tác bằng tay và kỹ
năng thị giác-không gian, trong khi lại rất kém ở các kỹ năng đòi hỏi sự suy
nghĩ trừu tượng hoặc trình tự lôgic.
•
Về
nhận thức: trẻ tự kỷ không thể bắt chước, không hiểu ý nghĩa của lời nói, cử
chỉ và điệu bộ, thiếu hẳn tính uyển chuyển, sáng tạo, không thể hiểu biết về
luật lệ, không thể xử lý hoặc sử dụng các thông tin.
Chú ý liên kết:
•
“Nghiên
cứu cho thấy rằng một khi chú ý liên kết đã thành thạo, ngôn lời nói bắt đầu
xuất hiện trong vòng 1 năm sau đó.” Chris Plauche Johnson, Med, MD. Trẻ bắt đầu
liên kết đến một người khác bằng việc chỉ trỏ. Trẻ nhìn theo hướng cha mẹ đang
chỉ và sau đó quay lại nhìn cha mẹ. Chỉ trỏ và nhìn là một sự giao tiếp và chức
năng xã hội. Biểu thị cho một chức năng xã hội(10-12m). Trẻ chỉ vào vật cùng
lúc với nhìn qua lại giữa vật và người chăm sóc (12-14 tháng), trẻ bị Tự kỷ có
thể chỉ khóc. Trẻ bị Tự kỷ có thể dắt tay cha mẹ đến vật trẻ mong muốn. Trẻ bị
Tự kỷ không dùng tiếp xúc mắt để liên kết với cha mẹ.
Các rối loạn khác
•
Khí
sắc phẳng lặng, cảm xúc quá mức hoặc không phù hợp. Có thể mau thay đổi, khóc
cười vô cớ hoặc la hét khó kiểm soát.
•
Có
thể leo trèo, chạy nhảy không sợ nguy hiểm, nhưng lại có thể sợ những sự vật
hoặc tình huống mà bình thường là vô hại, vd. sợ các thú nuôi (chó, mèo…) hoặc
sợ đến một nơi chốn nào đó.
•
Thói
quen kỳ dị: nhổ tóc, cắn móng tay, cườm tay, cổ tay hoặc các phần khác của cơ
thể. Các thói quen này thường gặp ở trẻ tự kỷ có chậm phát triển.
•
Tự
xoay người vòng vòng mà không bị chóng mặt.
•
Động
kinh xảy ra ở 1/4 đến 1/3 trường hợp. Thường cơn đầu tiên xảy ra ở tuổi thiếu
niên (Deykin & MacMahon, 1979).
CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN KÈM THEO
Kém tập trung và chú ý
Tăng động
Các bận tâm bất thường
Ám ảnh
Hành vi thúc ép, nghi thức
Nói định hình
Phong cách định hình
Lo âu, sợ hãi
Rối loạn khí sắc
Rối loạn giấc ngủ
Tự gây thương tích
Tics
Các triệu chứng về tiêu hóa
(táo bón, trào ngược dạ dày thực quản , tiêu chảy…)
Suy kém thị giác – thính giác
Rối
loạn lưỡng cực.
|
64%
36-48%
43-88%
37%
16-86%
50-89%
68-74%
17-74%
9-44%
11%
24-43%
8%
18-52%
7-20% suy kém thính giác.
4% suy kém thị giác
15% người lớn bị tự kỷ
|
Bài viết có sự tham khảo từ tài liệu của BS. NGUYỄN MINH TIẾN : TỔNG QUAN TỰ KỶ.
