Trong
quyển Tự Điển Bách Khoa Y Học Anh-Việt có định nghĩa về tâm lý trị liệu
(còn gọi là tâm lý liệu pháp) như sau: “Điều trị các vấn đề tâm lý, cảm xúc
bằng các phương pháp tâm lý. Trong tâm lý liệu pháp, bệnh nhân trò chuyện với nhà
trị liệu về các triệu chứng và các vấn đề mà họ mắc phải và thiết lập mối quan
hệ giữa bệnh nhân và nhà trị liệu. Mục đích của quá trình này là giúp bệnh nhân
tìm hiểu chính họ, tạo nên một cái nhìn mới về các mối quan hệ trong quá khứ và
hiện tại, thay đổi những hành vi đã định hình của người bệnh” [2]
Trong quyển Từ điển Tâm Lý Học cho rằng “Trị
liệu tâm lý là sự giúp đỡ tâm lý cho những người có khó khăn tâm lý khác nhau.
Trị liệu tâm lý là tổ hợp những tác động trị liệu ngôn ngữ và phi ngôn ngữ lên
cảm xúc, ý kiến, tự ý thức của những người có bệnh tâm lý thần kinh và bệnh tâm
thể. Trị liệu tâm lý là tổ hợp những tác động tâm lý đa dạng nhằm khắc phục những
sai lệch quá mức và chữa trị bệnh” [1] . Nhìn chung, trị liệu tâm lý có ảnh hưởng
đến tâm lý, trong đó có mối quan hệ với bản thân, đến người khác, với môi trường
xung quanh và với cuộc sống nói chung. Trị liệu tâm lý có thể ở các dạng liệu
pháp tâm lý cá nhân (tham vấn cá nhân) và liệu pháp nhóm (bao gồm các trò chơi,
các cuộc thảo luân…). Người ta đã phân biệt một cách có điều kiện các trị liệu
tâm lý sau:
l
Trị liệu tâm lý định hướng chủ yếu là nhằm giảm
bớt hoặc xóa bỏ những triệu chứng hiện có và liệu pháp tâm lý định hướng nhân
cách có nhiệm vụ giúp đỡ người bệnh thay đổi những mối quan hệ của họ đối với
môi trường xã hội và nhân cách của mình.
l
Các phương pháp trị liệu tâm lý lâm sàng -
thôi miên, luyện tập thư giãn, ám thị và tự ám thị, liệu pháp duy lý.
l
Trị liệu tâm lý định hướng nhân cách (trị liệu
tâm lý cá nhân và trị liệu tâm lý nhóm) được sử dụng rộng rãi những dị bản khác
nhau để phân tích những trải nghiệm xung đột ở người bệnh. Trong trị liệu tâm
lý cá nhân, hiệu quả chữa trị phụ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng mối quan hệ
tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau giữa nhà trị liệu và đối tượng chữa trị (khách
hàng) cũng như khả năng làm việc của nhà trị liệu, trong đó khả năng thấu cảm
là nhân tố quyết định tính hiệu quả của những tác động trị liệu. Trị liệu tâm
lý nhóm là việc sử dụng những quy luật tâm lý của quan hệ liên nhân cách trong
nhóm nhằm đạt được những tiến triển tâm lý và thể chất tích cực cho mỗi thành
viên trong nhóm. Với tư cách là những phương pháp tác động trị liệu tích cực,
các liệu pháp lao động, liệu pháp tâm lí nhóm, liệu pháp gia đình đã được sử dụng
rộng rãi để tạo điều kiện nâng cao uy tín của khách hàng trong các mối quan hệ
liên nhân cách và hoàn thiện khả năng tự nhận thức và tự điều chỉnh của họ.
Theo
Alexander thì bất kỳ ai đang cố gắng cảm thông với một người bạn đang đau khổ
hoặc cố trấn an một đứa trẻ đang hoảng sợ, thì cũng có thể xem người ấy đang
thực hành tâm lý trị liệu. Người đó đang cố gắng vận dụng các phương thức tương
tác về mặt tâm lý để bảo tồn trạng thái thăng bằng về mặt cảm xúc ở một người
khác. Những cách thức thông thường này chủ yếu được dựa trên những sự hiểu biết
có tính trực giác hơn là sự hiểu biết có tính khoa học. Khi bạn đang nói chuyện
với ai đó đang có tâm trạng phiền muộn, bạn cũng có thể tự nhiên hiểu được tác
dụng tốt của việc giúp cho người ấy giải tỏa cảm xúc. Với một người đang trong
trạng thái hoảng sợ, quẫn trí, bạn cũng có thể (bằng sự hiểu biết có tính trực
giác) mang đến cho người ấy sự hỗ trợ về mặt cảm xúc bằng những lời khuyên và
một thái độ vững chãi để người ấy có thể tin tưởng nương tựa vào bạn. Bạn vốn
cũng có thể đã biết rằng khi một người đang bị chìm ngập trong một tình huống
có tính nguy hiểm, đáng sợ thì người ấy không thể sử dụng được lý trí của mình
một cách hiệu quả, và bạn cần giúp anh ta ổn định bằng cách nâng đỡ về mặt tâm
lý. Trong lúc nói chuyện với người ấy về hoàn cảnh khách quan mà anh ta đang
đương đầu, bạn có thể cho anh ta ‘mượn’ công cụ lý trí của chính bạn để sử
dụng. Khi làm tất cả những việc này, chúng ta đã thực hành một sự phối hợp giữa
hai công việc có tính chất chữa trị, một là nâng đỡ (supportive), hai là thấu
hiểu (insight). Và Alexander đã định nghĩa tâm lý trị liệu “... không gì khác
hơn ngoài việc áp dụng một cách có hệ thống, một cách có ý thức những phương
pháp mà chúng ta áp dụng để ảnh hưởng lên những người sống xung quanh chúng ta
trong cuộc sống thường ngày. Sự khác biệt quan trọng nhất là ở chỗ: nó không
đơn thuần dựa trên những sự hiểu biết có tính trực giác mà thay vào đó là phải
có sự thiết lập tốt các nguyên lý chung về tâm lý động học (psychodynamics)” [7].
Theo
Micheal Franz Basch Tâm lý trị liệu có thể được xem là “nghệ thuật tạo sự khích
lệ, và kế đó là sử dụng tầm ảnh hưởng của nhà trị liệu lên thân chủ của mình
một cách thuần thục”. .Nói một cách hình tượng thì “nhà trị liệu mang thân chủ
đến một điểm mà ở đó họ không còn cảm thấy tuyệt vọng nữa” (Martin Seligman).
Hay nói theo cách của Gregory Bateson: tâm lý trị liệu “cung cấp một sự khác
biệt để tạo nên một sự khác biệt mới”.
Theo
James Bugental, Ph.D: Tâm lý trị liệu không làm việc trên những điều bạn suy
nghĩ. Đó không hẳn là việc chữa lành một căn bệnh. Đó không phải là sự hướng
dẫn của một nhà thông thái. Đó không phải là sự chia sẻ giữa hai người bạn
thân. Đó cũng không phải là một quá trình học hỏi những kiến thức. Tâm lý trị
liệu không liên quan đến những điều bạn suy nghĩ. Đó là sự làm việc trên cách
thức mà bạn suy nghĩ. Nó làm cho bạn chú ý đến cách thức mà bạn suy nghĩ. Nó
phân biệt rõ giữa những điều bạn đang suy nghĩ đến và cách thức mà bạn thực
hiện sự suy nghĩ ấy. Tâm lý trị liệu ít quan tâm đến việc tìm kiếm những nguyên
nhân để giải thích những gì bạn đang làm, nó quan tâm đến việc khám phá ý nghĩa
từ những việc mà bạn đang làm. Tâm lý trị liệu không làm việc trên những điều
bạn nghĩ. Nó liên quan đến cách thức mà bạn sống với những tình cảm của mình.
Nó liên quan đến những quan điểm bạn áp dụng vào trong những mối quan hệ của
bạn với những người xung quanh. Nó liên quan đến những điều bạn muốn đạt đến
trong đời và cách thức mà bạn cố gắng để đạt đến những mục đích ấy. Nó liên
quan đến các nguồn lực giúp đỡ để bạn có thể tìm thấy những tiềm năng thay đổi
trong con người bạn.
Ngoài ra, có một khái niệm khác cho rằng Tâm
lý trị liệu là các phương pháp, các kỹ thuật mà nhà trị liệu sử dụng để tác động
tới tâm lý người bệnh một cách tích cực, có hệ thống nhằm mục đích phòng và chữa
bệnh. Trong sự tồn tại và luôn luôn thay đổi, mối quan hệ liên cá nhân đóng một
vai trò rất quan trọng – con người hoàn toàn phụ thuộc lẫn nhau để có thể duy
trì được trạng thái đầy đủ và trọn vẹn về mặt tâm lý cá nhân. Mối quan hệ liên
cá nhân được duy trì và gắn kết thường được biểu hiện qua sự nương tựa, trợ
giúp và bảo vệ nhau trước những kẻ thù
hay mối nguy hiễm đe dọa từ thảm họa của các hiện tượng thiên nhiên như bão,
lũ, động đất, sóng thần…Bên cạnh đó, đời sống tinh thần có những con người cần
đến nhau như một động lực để sống, để vươn lên, để sẽ chia những vui buồn với
biết bao thăng trầm biến động mà cuộc sống mang lại. Sự giúp đỡ này có rất nhiều
nổ lực, sự cảm thông và cả tất cả những cố gắng nhằm xoa dịu nổi đau, an ủi…bằng
những phương tiện tâm lý. Nó bao gồm các ứng xử, hành vi như khi ta đặt một bàn
tay ấm áp lên vai một người để trấn an hoặc tinh tế hơn là đẩy lùi đi các cảm
xúc có hại. Tất cả đều hướng đến mục đích chung là đem lại sự yên tỉnh cho tâm
hồn đang “dậy sóng” hoặc chí ít là trấn an họ, giúp họ mạnh mẽ hơn đối diện với
bản thân, với vấn đề thực tại xoa dịu đi những “vết đen” trong tâm hồn họ. Những
tác động như trên hay những lời khuyên, hướng dẫn người khác…có thể được xem là
những tác động đến tâm lý. Nhưng thực chất, những tác động này có được xem là
“trị liệu tâm lý” ? . Có thể thấy rằng đó là những “nguồn giúp đỡ” không chính
thức, giống như một cơn gió lướt nhẹ qua làm cho ta quên đi tạm thời cái nóng của
mùa hè ! cơn gió ấy có thể tìm thấy và tiếp nhận từ phía người thân bao gồm các
thành viên trong gia đình cho đến bạn bè xung quanh. Theo Jessie Bernard, “tư vấn tâm lý giúp con
người của thân chủ trở lại hòa hợp với số phận của họ, điều chỉnh bản thân họ
khi sống đối mặt với những thất bại và đau khổ. Nhưng nếu những thân chủ ấy có
những ứng xử không tuân theo các chuẩn mực hoặc có những rối loạn tâm trí
nghiêm trọng, thì việc giúp đỡ những thân chủ ấy sẽ thuộc trách nhiệm của nhà
tâm lý trị liệu”. Tâm lý trị liệu là phương pháp chữa trị các vấn đề tâm lý chủ
yếu bằng phương pháp sử dụng lời nói hoặc các công cụ giao tiếp khác giữa nhà
trị liệu và thân chủ. Có hai
điểm khác biệt đặc trưng tạo nên sự khác biệt quan trọng giữa sự giúp đỡ không
chính thức với tâm lý trị liệu:
l
Tiến trình trị liệu tâm lý được thực hành bởi nhà
trị liệu, là những nhà chuyên môn đặc biệt được đào tạo một cách khoa học, đáp ứng
trình độ chuyên môn và có đầy đủ phẩm chất của một nhà trị liệu. Ở nhiều quốc
gia trên thế giới, những nhà trị liệu phải được đào tạo có giấy chứng nhận và
giấy phép hành nghề, có thể xuất thân từ những chuyên ngành khác nhau như: nhà
tâm lý, bác sĩ tâm thần, nhà phân tâm,…các chuyên viên làm việc trong lĩnh vực
chăm sóc sức khỏe tâm thần. Họ được cộng đồng, xã hội chấp nhận để hướng dẫn những
hoạt động nhằm tác động đến tâm lý tới thân chủ hoặc người bệnh – những tâm hồn
dậy sóng, có những biểu hiện bất ổn về tâm lý.
l
Nhà trị liệu hoạt động được dẫn dắt một cách
có hệ thống dựa trên những luận thuyết rõ ràng. Những luận thuyết này giải
thích các nguồn gốc nổi đau buồn, bất lực của thân chủ đồng thời ấn định các
phương pháp làm giảm bớt các biểu hiện tiêu cực đó.
Cần có cái nhìn phân biệt giữa trị liệu tâm lý
với các kỹ thuật sinh học như hóa dược, giải phẫu…sự khác biệt đó là tính chất
của phương pháp can thiệp, và đối tượng can thiệp. Sự khác biệt này được thể hiện
ở chổ trị liệu tâm lý dựa trên các giao tiếp mang tính tượng trưng chứ không phải
can thiệp về cơ thể. Thành công của tiến trình trị liệu phụ thuộc vào mối quan
hệ liên cá nhân giữa nhà trị liệu và thân chủ, vào những tác động vào cá nhân của
nhà trị liệu. Thông qua quá trình giao tiếp, được thiết lập với những ấn tượng
ban đầu, sự tin tưởng, thiết lập giới hạn trong tiến trình trị liệu…được gọi là
mối quan hệ trị liệu - một mối quan hệ được thiết lập giữa nhà trị liệu và thân
chủ . Trong mối quan hệ này nhà trị liệu có sự quan tâm đặc biệt đến nhu cầu của
thân chủ. Nó được xảy ra trong một khuôn khổ có tính trị liệu, những giới hạn về
thời gian cũng như không gian được quy định rõ ràng đáp ứng tốt cho quá trình
trị liệu, trong đó thân chủ được giúp đỡ để hiểu biết về bản thân và vấn đề của
mình. Điều gì
đã giúp tạo nên hiệu quả của phép chữa trị ấy? Nhiều yếu tố giúp tạo nên hiệu
quả của tâm lý trị liệu đã được nghiên cứu và thừa nhận như bản chất mối quan
hệ trị liệu (Goldstein; 1962), sự hữu dụng của lời nói (Bernstein; 1965), lòng
tin của người bệnh (hoặc thân chủ) đối với nhà trị liệu (Frank; 1961). Nhà trị
liệu và thân chủ cùng làm việc để tìm ra giải pháp, giao tiếp hiệu quả là yếu tố
quan trọng góp phần cho tiến trình làm giảm bớt, hay sự hồi phục ở thân chủ. Việc
trị liệu được xem là đã khởi đầu ngay từ buổi đầu tiếp xúc với thân chủ, không
nhất thiết phải thiết lập xong chẩn đoán rồi mới tiến hành trị liệu.
“Triệu chứng” không quan trọng bằng vai trò và
ý nghĩa của triệu chứng. Đây là một trong những quan niệm trọng điểm mà hiện
nay được các Nhà trị liệu công nhận. Tâm lý trị liệu, nói chung, nhắm đến việc
làm tăng trưởng nhân cách một con người theo chiều hướng trưởng thành hơn, chín
chắn hơn, và giúp người đó “tự hiện thực hóa bản thân mình”. Có thể tóm tắt một
số mục tiêu chính của tâm lý trị liệu như sau:
l
Gia tăng khả năng thấu hiểu bản thân của thân
chủ.
l
Tìm kiếm giải pháp cho các xung đột.
l
Gia tăng sự tự chấp nhận bản thân của thân chủ.
l
Giúp thân chủ có những kỹ năng ứng phó hữu hiệu
với những khó khăn.
l Giúp
thân chủ củng cố một cái Tôi vững mạnh, toàn vẹn và an toàn.
James
C. Coleman nêu ra một số bước cơ bản trong tiến trình làm tâm lý trị liệu như
sau:
l
Tạo một bầu không khí quan hệ có tính trị liệu.
l
Giải tỏa cảm xúc của thân chủ.
l
Tạo sự thấu hiểu nơi thân chủ.
l
Giúp thân chủ định hình lại cảm xúc, kết thúc
trị liệu.
Như vậy
có thể hiểu rằng tâm lý trị liệu là bao gồm các phương pháp, các kỹ thuật tác động tích cực về mặt tâm lý được các nhà
trị liệu áp dụng một cách có khoa học với mục đích giúp đỡ thân chủ giả quyết
các vấn đề tâm lý.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1.
Vũ Dũng (2008),Từ điển Tâm Lý Học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Tâm lý học
NXB Từ Điển Bách Khoa Hà Nội).
2.
Ngô
Gia Hy (2005), Điển Bách Khoa Y Học Anh-Việt, NXB Y Học Tp.HCM.
3.
Nguyễn Minh Tiến (không ngày
tháng). Áp dụng chiến lược hỗ trợ
[trực tuyến]. Đọc từ http:// www.tamlytrilieu.com.
4.
Nguyễn
Minh Tiến, Nguyễn Văn Khuê (không ngày tháng). Trị liệu nhận thức hành vi [trực
tuyến]. Đọc từ http:// www.tamlytrilieu.com.
7.
Samuel
T.Gladding (2005), Counseling &
Theories, wake Forest University copyright by person Education, Inc., Upper
Saddle River, New Jersey 07458.
